|
Hành Quân
Lưu Động Biển
Lực-Lượng
Đặc-Nhiệm Duyên-Phòng 213
Nguyễn - Tấn -
Đơn
Lời Mở Đầu : Sau ngày Việt-Nam Cộng-Hòa bị bức tử. Đoàn tầu di-tản của Hải-Quân Việt-Nam được Hoa-Kỳ tiếp-nhận, các nước tự-do trên thế-giới cũng mở rộng vòng tay cho đồng-bào ruột thịt chúng ta định-cư tị-nạn. Tất cả chúng ta là nạn-nhân của Cộng-Sản miền Bắc xâm-chiếm miền Nam VN hiền-hoà, tự-do và hạnh-phúc. Giờ đây trên khắp thế-giới đâu đâu cũng có bóng dáng người Việt-Nam. Chắc chắn con cháu chúng ta thuộc những thế-hệ sau không khỏi không thắc mắc, tại sao dân ta lại có mặt ở đây. Công việc của cha ông đời trước bảo-vệ đất nước ra sao, kế-hoạch phòng-thủ và tinh-thần chiến-đấu như thế nào. Ai là bạn, ai là thù, nước nào giúp chúng ta v.v. Là người quân-nhân gia-nhập quân-đội, dù trực-tiếp hoặc gián-tiếp chúng ta nên góp phần làm chứng-nhân lịch-sử, để cho thế-hệ sau có dữ-liệu phán-xét việc làm của các bậc tiền-bốị Trong tinh-thần đó, tôi xin góp phần làm viên gạch nhỏ bé của mình vào tòa nhà "Hải-Sử HQVN". Một Quân-Chủng có quá-trình trên 20 năm bảo-vệ tổ-quốc. Đề-tài đó là cuộc hành-quân tuần-tiễu duyên-phòng bảo-vệ lãnh-hải, được tổ-chức hỗn-hợp Việt-Mỹ có tên "MARKET TIME OPERATION." Tiền-thân của Hành-Quân Lưu-Động Biển : Lực-Lượng Đặc-Nhiệm Duyên-Phòng 213 sau nàỵ Sự việc xảy ra cách nay đã trên 35 năm. Tôi chỉ trình bày phần cơ-bản, khi tình thế, hoàn cảnh cũng như nhu-cầu, tổ-chức và các lực-lượng thêm hay bớt là việc thường xảy ra khi hữu-sự. I - Tổ-Chức và Hoạt-Động của CTF 115 Ngày 08 tháng 03 năm 1965 Tổng-Thống Mỹ JOHNSON đã cho quân-lực Hoa-Kỳ đổ bộ vào duyên-hải Đà-Nẵng, song song việc trên thì các thành-phần liên-kết với bộ-binh là không-quân và hải-quân cũng đã đồng-loạt tăng-cường. Riêng về hải-quân thì đầu năm 1965, TASK FORCES 115 được thành-lập. Bộ-Tư-Lệnh của CTF-115 (Coastal Task Force) đóng tại CamRanh. Cuộc hành-quân tuần-tiễu trên biển của Hải-Quân Mỹ và Hải-Quân VN được phối-hợp chung và đặt tên là: MARKET TIME OPERATION. Từ đó Hải-QuânVN đảm-trách tuần-tiễu cận-duyên (Inner Barrier). Hải-Quân Mỹ đảm trách tuần-tiễu viễn-duyên (Outer Barrier). Đứng trước những hoạt-động phối-hợp qui-mô, cấp-bách và bất ngờ đó. Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân VN đã chỉ định một số đông các Sĩ-Quan Hải-Quân: khóa 11, 12, và 13 đảm trách công việc sĩ-quan liên-lạc (Liaison Officer) trên các chiến-hạm Mỹ, các khóa kế tiếp như khoá 14 trở đi, sau thời-kỳ thực-tập mãn-khoá trên Đệ 7 Hạm-Đội xong cũng lần lượt được chỉ định thay thế các khoá đàn anh. Khi đó HQ Đ/Úy Nguyễn-Văn-May trưởng phòng 3 BTL/HQ coi như là cha đẻ của thành phần Sĩ-Quan Liên-Lạc nàỵ Chiến-hạm Mỹ tham-gia vào các chiến-trường miền nam là thuộc vào lực-lượng của đệ 7 Hạm-Đội tăng-phái cho CTF-115. Đệ 7 Hạm-Đội lúc đó có cả thảy 125 chiến-hạm đủ loại, gồm 4 Hàng-Không Mẫu-Hạm và thường-trực có mặt 2 chiếc còn 2 chiếc luân-phiên nghỉ bến và tu-bổ, trong số đó có chiếc CVAN 65 USS Enterprise là nguyên-tử. Một Pháo Hạm cở lớn là USS NEW-JERSEY có nòng súng cở 16 Inch, rất nhiều Đ, ĐG, DER, DLG, FRIGATE, MSO, MSC, PB, tàu ngầm, tàu dân sự, tàu dầu, tàu tiếp-tế, v.v... Trong số đó có một chiến-hạm đặc-biệt duy-nhất của Mỹ thuộc loại Degausing ship, đây là một chiến-hạm có hình dạng như loại PC (Patrol Craft) loại PC thì trước đây HQVN đã được Hải-Quân Pháp chuyển-giao từ năm 1952 như HQ 02, HQ03 ,HQ 04 ,HQ 05 ,HQ 06. Đến năm 1965 vì các chiến-hạm trên quá cũ nên phế-thải, chiến-hạm Degausing ship này hoàn toàn không có vũ-khí, chỉ có súng cá-nhân mà thôị Lúc đó tôi và anh Lê-Kim-Lợi khóa 11 SQHQ/NT cùng đi trên chiếc nàỵ Sau vài hôm thì tôi được chuyển qua Đ 666 USS BLACK. Chiến-hạm đầu tiên mà tôi nhận nhiệm-vụ làm SQLL là Đ446 USS RADFORD. Chiến-hạm đến Vũng-Tàu nhận tôi nhập-hạm, Hạm-Trưởng là 1 vị Đ/Tá, ông ta rất thích câu cá giải-trí, 3 lần thả xuồng nhỏ chở tôi cùng đi câu cá ngoài khơi Phan-Thiết phiá nam đảo Cù-Lao-Thụ Sau 6 tuần lễ, chiến-hạm mãn công-tác, không vào bến mà chuyển-giao tôi ngay giữa biển khơi cho 1 tầu khác bằng cách cho đi Highline. Lần đầu tiên đi Highline cũng thấy thích-thú. Nói đến Highline thì trên Đệ 7 Hạm-ĐộI, ngoại trừ biển quá động mạnh mới sử-dụng đến trực-thăng. Thường thì mọi trao đổi qua lại đều dùng Highline rất thông lệ. Đêm nào trên tầu cũng có chiếu phim cho Sĩ-Quan và Đoàn-Viên giải-trí. Thông thường trên một chiến-hạm Mỹ là có một SQHQVN làm liên-lạc. Nhiệm-vụ của SQLL là khám-xét các ghe khả-nghi, liên-lạc và thông-dịch. Thời-gian của mỗi chuyến công-tác là từ 6 đến 8 tuần lễ thì có hẹn để thay thế. Khi được thay thế để nghỉ tại bờ, thì các SQLL đảm trách trực-phiên tại các Trung-Tâm Kiểm-Soát Duyên-Hải vùng (gọi là CSC: Coastal Surveillence Center). Tôi đảm-trách công việc SQLL hơn 1 năm thì đến giữa năm 1966 tôi nhận nhiệm-vụ khác. Song song với việc chiến-hạm tuần-tiễu trên biển, CTF 115 còn sử-dụng luôn cả phi-cơ không-tuần loại P2V xuất-phát từ căn-cứ không-quân UTAPAO của Thái-Lan để thám-sát cách xa bờ vài trăm hải-lý. Bản thân tôi trong khi làm SQLL cũng có tham-gia một chuyến không tuần trên phi-cơ C47 của Không-Lực VNCH, quan-sát ven duyên-hải từ Vũng-Tàu ra Phú-Quốc rồi vòng trở lại đường cũ và đáp xuống Tân-Sơn-Nhứt. Đầu năm 1969, sau khi Tổng-Thống Mỹ RICHARD NIXON đắc-cử, thì cuộc hành-quân phối-hợp bắt đầu chuyển hướng. Chính-sách mới của Tổng-Thống Mỹ thực-thi đúng lời hứa khi ra tranh-cử là rút quân-đội ra khỏi VN. Giao lại cuộc chiến cho người VN đảm-trách. Lúc đó toàn thể QLVNCH rất cần người để chuẩn-bị trám vào chỗ mà quân-lực Mỹ sẽ rút đị Tư-Lệnh HQVNCH lúc này là Đề-Đốc Trần-Văn-Chơn đã khẩn-cấp ra chỉ-thị thành-lập các lực-lượng mới : * Lực-Lượng Thủy-Bộ . Tức là : Lực-Lượng Đặc-Nhịêm 211. * Lực-Lượng Tuần-Thám : Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 212. * Lực-Lương Duyên-Phòng : Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 213. * Lực-Lượng Trung-Ương : Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 214. Cuối năm 1969, sau khi rời chiến-hạm HQ 613, tôi được chuyển về LLĐN 213 tại CamRanh. LLĐN 213 là một đơn-vị tân-lập, dự-tính đơn-vị này sẽ thay thế chỗ của CTF 115 sau khi Mỹ rút luị Tôi đáo-nhậm đơn-vị mới ngày 15.11.1969 trong Căn Cứ MARKET TIM‰ Lúc này đơn-vị toàn là người Mỹ, mới đầu chỉ có vài Sĩ-Quan và Đoàn-Viên đến để tập-sự phiên trực tại Trung-Tâm Hành-Quân CAMRANH của CTF115. Tại đây người Mỹ cung-cấp nơi ăn, chỗ ở cho toàn bộ người VN nếu còn ở bên trong Căn-Cứ Hải-Quân/CR thì hoàn toàn miễn phí . Tại đây tôi bắt đầu nghiên-cứu và làm quen với công việc và tổ-chức của CTF115. Ba tuần sau thì nhân vật số 3 của LLĐN213 là HQ Th/Tá Bùi-TRọng-Kim (Khóa 9 SQHQ/NT) đến CAMRANH, gia-nhập vào đơn-vị tân-lập. Bốn tuần sau thì nhân vật số 2 của LLĐN213 là HQ Tr/Tá Nguyễn-Bá-Trang đến đơn-vị. Một tuần lễ sau nhân-vật số 1 của LLĐN 213 là HQ Đ/Tá Nguyễn-Hửu-Chí ra đảm nhận chức-vụ Tư-Lệnh LLĐN 213. Như vậy vào tháng 2 năm 1970 LLĐN 213 và CTF 115 hoạt-động song hành, các đơn-vị bắt đầu chuyển-giao nhiệm-vụ. Cũng cần nói riêng thêm về nhân-vật số 2 là Tr/Tá Trang, sau này vào đầu năm 1975, khi tôi phục-vụ tại chiến-hạm HQ 404, có lần công-tác tại Bình-Thủy, tôi gặp lại Xếp cũ, lúc này là Đ/Tá Tư-Lệnh Lực-Lượng Thủy-Bộ: 211. Sau 30.04.75 thì cũng gặp lại Xếp cũ, cùng ở tù chung tại trại Suối-Máu Biên-Hoà, cùng với các vị như: Đ/Tá Nguyễn-Văn-Tấn, Đ/Tá Nguyễn-Viết-Tân, Đ/Tá Nguyễn-Văn-May, Đ/Tá Nguyễn-Văn-Kinh (Tuần-Giang), cựu Đ/Tá Đinh-Công-Chấn. Riêng về Đ/Tá Nguyễn-Văn-Tấn (AN/HQ), sau khi các chiến-hạm rút khỏi cảng Saigòn đêm 29.04.75. Sáng ngày 30.04.75, các Sĩ-Quan còn lại cũng mặc quân-phục cấp-bậc đầy đủ vào BTL/HQ xem coi có việc gì đã xảy ra, kể cả Sĩ-Quan các chiến-hạm còn lại cũng tập-trung tại CLB nổi (tuy không bắt buộc). Sau đó Đ/Tá Tấn mời 1 Sĩ-Quan Việt-Cộng vào nói chuyện, hắn nói dài, nói dai và nói dốc. Hắn khoe miền Bắc văn-minh hơn, có 2 lò luyện thép, còn miền Nam thấy vậy mà phồn-vinh gỉả-tạo, chi biết ăn bám của nhân-dân. Rồi đây ai cũng có việc làm. Cuộc nói chuyện hơn một tiếng thì giải-tán, mạnh ai về nhà nấy thay thường phục, để rồi lần lượt gặp nhau trở lại tại các nhà tù. Tháng 5 năm 1976, chúng tôi lần lượt được chuyển ra miền Bắc bằng tầu thủy từng đợt khác nhaụ Từng đoàn xe MOLOTOVA bít bùng chở chúng tôi từ trại Suối-Máu: K1, K2, K3, K4 , K5, đến bến tàu là 12 giờ khuyạ Xe mở tấm che cho tù-nhân bước xuống sắp hàng. Lúc đó tôi mới nhận ra nơi đây là Tân-Cảng, chiếc tàu chở chúng tôi tên là Sông-Hương. Cũng tại bến cảng này trước đây tôi cũng đã cập bến lấy hàng mỗi khi công-tác. Cũng tại bến cảng này ngày 04.03.75 tôi đã bàn-giao HQ 404 cho HQ Tr/á Nguyễn-Đại-Nhơn (Khóa 10 SQHQ/NT). Từ đây có thể nhìn thấy những nóc nhà của Cư-Xá Cửu-Long Thị-Nghè. Trong cư-xá đó gia-đình tôi vẫn còn đang cư-ngụ. Tuy thông-cáo nói là đi 30 ngày mà nay thời-gian đã gần 1năm rồi, bây giờ lại tiếp-tục đưa ra Bắc, ngày về thật là mù-mịt. Từ ngày Cộng-Sản chiến-thắng đến nay, chúng đã áp-đặt lên nước VN một chính-sách man-rợ. Đây là câu nói của nhà văn Dương-Thu-Hương mà tôi thấy rất xác-thực. Sau năm 1975 có đi tù, tuy có cực-nhọc về thể-xác nhưng cũng có lúc cười ra nước mắt vì sự ngu dốt, ngớ-ngẩn của bọn chỉ-huy Cộng-Sản. Bọn VC chỉ giỏi về chính-trị học thuộc lòng. Khi ai đã tham-dự vài bài học chính-trị do bọn cán-bộ lên lớp, sau đó mọi người đều phát-biểu trở lại y như nhaụ Trong 1 tổ chừng 10 người là 10 lần phát-biểu thì sau đó ai cũng thuộc lòng và ai cũng có thể phát-ngôn như là đã từng làm cán-bộ chính-trị. Tuy nhiên về trình-độ văn-hoá, kiến-thức chung của văn-minh nhân-loại thì họ rất kém nếu không nói là ngu dốt. Cho nên họ rất dị-ứng với giới trí-thức. Vì chỉ có giới trí-thức mới nhận ra thiên-đường mù của họ. Mới đây, nhân dịp 30.04.2000, Thượng Nghị-Sĩ Mỹ JOHN MC CAIN khi đến thăm VN đã phát-biểu cảm-tưởng: "Chiến-thắng được trao lầm tay ". Thật là đúng hết chỗ nóị Có đi tù ra miền Bắc mới thấy bọn CS đã kéo lùi miền Bắc lại sau miền Nam vài thập-niên thua xạ Nay, sau 25 năm, chế-độ man-rợ đã kéo lùi toàn bộ đất nước tụt-hậu so với các nước Đông-Nam-Á. Những gì đã có tại miền Nam, thì chế-độ man-rợ đã xóa bỏ tất cả sau ngày 30.04.75. Đến năm 1986 thì mới lượm-lặt những cái trước đây đã bỏ đi, nay chùi rửa và đánh bóng lại đem ra xài gọi là mở cửa, gọi là đổi mớị Trở lại hoạt-động của Trung-Tâm Hành-Quân CTF 115. Khi LLĐN 213 đã có Tư-Lệnh và Tư-Lệnh-Phó thì công việc hàng ngày đều kết-hợp với Mỹ. Phần việc của tôi là đảm trách thuyết-trình tin-tức (Briefing). Một tuần làm việc 6 ngày trừ chúa nhật. Mỗi sáng lúc 9 AM là giờ thuyết-trình, trước giờ đó các Sĩ-Quan của CTF 115 và CTF 213 có mặt. Khi 2 vị Tư-Lệnh vào thì cuộc thuyết-trình bắt đầụ Trước tiên Trưởng Phòng hành-quân CTF 115 thuyết-trình: Tình-trạng chiến-hạm đệ 7 hạm-đội tham dự tuần-tiễu, các sự-kiện xảy ra trong ngày như yểm-trợ hải-pháo, các sự thiệt-hại, kết-quả không-tuần, các hoạt-động sắp tới, tình-trạng các WPB và PCF tại các Hải-Đội, cuối cùng là tin khí-tượng. Kế đó Sĩ-Quan VN của CTF 213 thuyết-trình về tình-trạng chiến-hạm VN tham-dự, các biến-cố trong ngày xảy ra tại các vùng Duyên-Hải, các cuộc hành-quân đổ bộ và kết-quả, thiệt hạị Sau cùng là các bài thuyết-trình của Sĩ-Quan tình báo Mỹ và Việt, phía VN thì khi đó là Đ/Úy HQ CB Nguyễn-Đức-Biền đảm-trách. Đặc-biệt khi có quan chức cao-cấp thăm viếng thì phải thuyết-trình toàn bộ tổ-chức và họat-động của Lực-Lượng. Đầu năm 1970 Đề-Đốc WARS Tư-Lệnh Thái-Bình-Dương đến, thì cuộc thuyết-trình không tổ-chức tại Trung-Tâm hành-quân mà tại phòng họp lớn của Tr/ Tá Chỉ-Huy-Trưởng Căn-Cứ. Trong thời-gian làm việc tại CTF 213 tôi có soạn-thảo tập "Huấn-Lệnh Hành-Quân" cho LLĐN 213, dựa vào S.šP (Standard Operation Procedure) của CTF 115 và các văn-thư căn-bản của BTL/HQ. Tháng 10 năm 1970 tôi được thuyên-chuyển về HĐ5 / DP. Hải Đội 5 Duyên-Phòng lúc bấy giờ có 36 chiếc PCF, hậu-cứ đặt tại Căn-Cứ Hải-Quân/Mỹ-Tho, do HQ Tr/Tá Phạm-Gia-Luật chỉ-huỵ HĐ5DP đã tăng-phái 12 PCF cho V5DH tham dự hành-quân Trần-Hưng-Đạo 1, một chi-đội gồm 12 PCF tăng-phái cho hành-quân THĐ 18 tại biên-giới Việt-Campuchiạ Số PCF còn lại thì tu-bổ và sửa-chữa tại Cát-Lở.
II -Thống-Thuộc Của CTF 115 CTF 115 nhận mệnh-lệnh từ Tư-Lệnh Hải-Quân Hoa-Kỳ tại Việt-Nam, lúc đó là Đô-Đốc ZUMWALT. Thống-thuộc hành-quân như sau : A) CTG: Coastal Task Group (gọi là Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm). Có tất cả 5 Liên-Đoàn Đặc-Nhiệm (CTG) : CTG 115.1 do Cố-Vấn-Trưởng V1ZH Đảm-nhiệm. CTG 115.2 do Cố-Vấn-Trưởng V2ZH Đảm-nhiệm. CTG 115.3 do Cố-Vấn-Trưởng V3ZH Đảm-nhiệm. CTG 115.4 do Cố-Vấn-Trưởng V4ZH Đảm-nhiệm. CTG 115.5 do Cố-Vấn-Trưởng V5ZH Đảm-nhiệm. Lúc đầu thì CTF 115 ra lệnh hành-quân cho Cố-Vấn-Trưởng của mỗi vùng Duyên Hải, dĩ nhiên giữa Cố-Vấn và Tư-Lệnh Vùng chỉ là một. Vì những gì Cố-Vấn cần là Tư-Lệnh Vùng đồng ý và ngược lạị Đó là sự phối-hợp theo thống-thuộc. Tại mỗi CTG đều có 1 C.S.C (Coastal serveillence Center). Tất cả CSC của các vùng đều đặt tại Trung-Tâm Hành-Quân Vùng. B) CTU: Coastal Task Unit (gọi là Phân-Đoàn Đặc-Nhiệm). CTU 115.2.1. đồn-trú tại Qui-Nhơn, Trực-thuộc: CTG 115.2 CTU 115.2.2. đồn-trú tại CamRanh, Trực-thuộc: CTG 115.2 C) CTE : Coastal Task Element (gọi là Chi-Đoàn Đặc-Nhiệm). Chi-Đoàn Đặc-Nhiệm chỉ được thành-lập khi có nhu-cầu hành-quân. D) Ngoài ra tại mỗi CTG đều có Hải-Đội Duyên-Phòng để quản-lý các WPB và PCF của Task Force 115. Cấp-số nhân viên của 1 WPB là 3 Sĩ-Quan và 8 Đoàn-Viên. PCF là 2 Sĩ-Quan và 3 Đoàn-Viên .
III -Thành Phần Tham-Dự : Market Time Operation. 1) Đệ 7 Hạm-Đội: Thường xuyên có 2 Hàng-Không Mẫu-Hạm, 1 chiếc hoạt động vùng phía Bắc, 1 chiếc hoạt-động vùng phiá Nam và vịnh Thái-Lan. Dĩ nhiên khi có mặt của HKMH là sự có mặt của Bình-Phong đội-hình gồm tầu ngầm, Đ, ĐG, DER, DE , MSO .v .v . Đệ 7 Hạm-Đội đảm trách 8 vùng viễn-duyên (Outer Barrier) bằng các chiến-hạm đủ loại như: Đ, ĐG, DLG, DER, FRIGATE, MSO, MSC, v .v. ...Đầu năm 1970 thì chiến-cuộc được nới rộng qua biên-giới CAMPUCHIA, hộ-tống các đoàn tầu di chuyển trên sông tiếp-tế cho thủ-đô Phnom-Penh do hành-quân Trần-Hưng-Đạo 18 đảm trách. Trong khi đó ngoài biển khơi thì CTF 115 mở thêm 1 vùng viễn-duyên thứ 9, bao bọc ngoài cảng KOMPONGSOM. 2) Không-Tuần: Loại phi-cơ P2V xuất-phát từ phi-trường UTAPAš Thường xuyên tuần-thám cách xa bờ vài trăm hải-lý. Hoạt-động 24/24 . 3) Các đài RADAR kiểm-báo. Tầm hoạt-động hữu-hiệu trên 50 hải-lý: ĐKB 101 tại núi La-Ngữ (Huế). ĐKB 102 ở Sơn-Trà. ĐKB 103 tại Cù-Lao-RÉ. ĐKB 104 ở Sa-Huỳnh Đức-Phổ. ĐKB 201 ở Poulo Gambir ĐKB 202 ở Hòn-Tre. ĐKB 301 ở núi Takơ Bình-Tuỵ ĐKB 302 tại Núi Lớn. ĐKB 303 tại Đảo Côn-Sơn. ĐKB 304 tại chiến-hạm neo ngoài khơi Ba-Động.
ĐKB 401 tại PouLo Obi. 4) Các chiến-hạm thuộc BTL/Hạm-Đội VN tăng-phái cho các Vùng DH. 5) Các Tuần-Duyên-Đĩnh WPB và Khinh-Tốc-Đĩnh PCF thuộc các Hải-ĐộI Duyên-Phòng trực-thuộc tăng-phái: -HĐ1/ZP đồn-trú tại Đà-Nẵng: 7WPB và 20 PCF. -HĐ2/ZP đồn-trú tại Qui-Nhơn: 8 WPB và 20 PCF. Hải-Đội 2 Duyên-Phòng được chia thành 2 Phân-Đội: PĐ21/ZP tại Hậu-cứ Qui-Nhơn . PĐ22/ZP hậu-cứ tại CamRanh. Riêng tại CamRanh còn có thêm 4 PG (Patrol Gunboat), được CTF 115 sử-dụng vào việc tuần-dương, tầu có vận-tốc nhanh, trang-bị hỏa-lực mạnh hơn, có cả 2 giàn phóng TORPEDo. -HĐ3/ ZP đồn-trú tại Cát-Lở: 6 WPB và 20 PCF . -HĐ4/ ZP đồn-trú tại An-Thới: 4 WPB và 20 PCF. -HĐ5/ ZP đồn-trú tại Năm-Căn: 36 PCF. Hậu-cứ của HĐ5/ZP trong giai-đoạn đầu mới thành-lập thì di-động tùy theo nhu-cầu tham-dự hành-quân. 6) Các Vùng Duyên-Hải đảm trách tuần-tiễu cận-duyên (Inner Barrier). Dọc theo duyên-hải VNCH lúc đầu được chia thành 51 vùng. Năm 1970 vì nhu-cầu yểm-trợ hành-quân THĐ 18 nên tăng thêm 3, thành ra 54 vùng cận-duyên. -V1/ ZH : Tư-Lệnh V1ZH kiêm-nhiệm CTG 115.1. Đồn-trú tại Đà-Nẵng, ranh-giới lãnh-hải bắt đầu từ Vĩ-tuyến17 xuống đến giáp ranh Quảng-Ngãi và Sa-Huỳnh. Được chia thành 11 vùng cận-duyên, cách bờ 12 hải-lý. Lực lượng cơ bản gồm có 6 Duyên-Đoàn và 1 Thủy-Xưởng, CCHQ/ĐN và các Giang-Đoàn tăng-phái. -Duyên-Đoàn 11: đồn-trú tại Cửa-Việt. -Duyên-Đoàn 12: đồn-trú tại Thuận-An. -Duyên-Đoàn 13: đồn-trú tại Tư-Hiền. -Duyên-Đoàn 14: đồn-trú tại Hội-An. -Duyên-Đoàn 15: đồn-trú tại Chu-Lai. -Duyên-Đoàn 16: đồn-trú tại cửa Cổ-Lủy Quảng-Ngãi . -V2/ ZH : Tư-Lệnh V2ZH kiêm-nhiệm CTG 115.2. Đồn-trú tại trại Tây-Kết (CCHQ/ NhaTrang) đến năm 1972 thì BTL/V2ZH di chuyển về CamRanh trong CCHQ/Cam Ranh. Ranh-giới lãnh-hải bắt đầu từ Sa-Huỳnh xuống đến mủi Kê-Gà Phan-Thiết. Được phân-chia thành 13 vùng cận-duyên, cách bờ 12 hải-lý. Lực-lượng cơ-hữu gồm có 8 Duyên-Đoàn và 2 Thủy-Xưởng (1 tại CamRanh và 1 tại Qui-Nhơn, trước năm 1972 Thủy-Xưởng Nhatrang còn hoạt-động). Có 3 căn-cứ : CCHQ/QN, CCHQ/NT, CCHQ/CR. -Duyên-Đoàn 21: đồn-trú tại Đề-Gi. -Duyên-Đoàn 22: đồn-trú tại Poulo Gambir. -Duyên-Đoàn 23: đồn-trú tại Sông-Cầu. -Duyên-Đoàn 24: đồn trú tại Tuy-Hoà. -Duyên-Đoàn 25: đồn-trú tại Hòn-Khói. -Duyên-Đoàn 26: đồn-trú tại Bình-Ba. -Duyên-Đoàn 27: đồn-trú tại Ninh-Chữ Phan-Rang. -Duyên-Đoàn 28: đồn-trú tại Phan-Thiết. V2ZH đảm trách 13 vùng cận-duyên. -V3/ ZH : Tư Lệnh V3ZH kiêm-nhiệm CTG 115.3. Đồn-trú tại Cát-Lở. Ranh-giới lãnh-hải bắt đầu mủi Kê-Gà đến cửa Định-An, được phân-chia thành 11 vùng cận-duyên bao gồm Đặc-Khu Côn-Sơn. Lực-lượng cơ-hữu gồm có 7 Duyên-Đoàn, Thủy-Xưởng Vũng-Tàu và Căn-Cứ Hải-Quân Cát-Lở. -Duyên-Đoàn 31: đồn-trú tại cửa Hàm-Tân. -Duyên-Đoàn 32: đồn-trú tại Bến-Đình Vũng-Tàụ -Duyên-Đoàn 33: đồn-trú tại Rạch-Dừạ -Duyên-Đoàn 34 và 37: đồn-trú tại Tiệm-Tôm Bến-Tre. -Duyên-Đoàn 35: đồn-trú tại Hưng-Mỹ Trà-Vinh. -Duyên-Đoàn 36: đồn-trú tại Long-Phú. -V4/ ZH : Tư-Lệnh V4ZH kiêm-nhiệm CTG 115.4. Đồn-trú tại An-Thới Phú-Quốc. Ranh-giới lãnh-hải bắt đầu từ cửa sông Ông-Đốc đến biên-giới Việt-Campuchia, được phân-chia thành 12 vùng cận-duyên. Lực-lượng cơ-hữu gồm có 6 Duyên Đoàn, Thủy-Xưởng và Căn-Cứ Hải-Quân An-Thớị -Duyên-Đoàn 42: đồn-trú tại Hòn Nam-Du, sau này di chuyển về An-Thới 1 Phân-Đội, còn 1 Phân-Đội đóng tại Poulo Panjang . -Duyên-Đoàn 43: đồn-trú tại Cửa Sông Ông-Đốc, sau di chuyển về đảo Hòn-Tre Rạch-Giá . -Duyên-Đoàn 44: đồn-trú tại Kiên-An Rạch-Giá. -Duyên-Đoàn 45: đồn-trú tại Bắc-Đảo Phú-Quốc , sau chuyển về Hà-Tiên . -Duyên-đoàn 46 và 47: Đồn-trú tại An-Thớị -V5/ ZH : Tư-Lệnh V5ZH kiêm-nhiệm CTG 115.5. Đồn-trú tại Năm-Căn, ranh-giới lãnh-hải bắt đầu từ cửa Định-An đến bờ nam cửa sông Ông-Đốc. Được phân-chia thành 7 vùng cận-duyên và 2 cửa sông Năm-Căn (từ cửa Bồ-Đề đến cửa Bảy-Hạp), sông Đồng-Cùng và chi-khu Năm-Căn. Lực-lượng cơ-hữu gồm có Duyên-Đoàn 41, Căn-Cứ Hải-Quân Năm-Căn và các đơn-vị tăng-phái : - Giang-Đoàn 43 Ngăn-Chặn tăng-phái. - Giang-Đoàn 53 Tuần-Thám tăng-phái. - Giang-Đoàn 71 Thủy-Bộ tăng-phái từ năm 1973 . - Duyên-Đoàn 36 tăng-phái tuần-tiễu từ cửa Định-An. - Duyên-Đoàn 41 đồn-trú tại PouLo Obi. Tổng số Duyên-Đoàn của 5 Vùng Duyên-Hải là: 28 đơn-vị chiến-đấu vừa có khả-năng tuần-tiễu cận-duyên, vừa có khả-năng hành-quân đổ bộ. Lực-lượng của các đơn-vị này gồm có ghe Chủ-Lực (Command junk), ghe Di-Cư, ghe Buồm, đó là trong giai-đoạn từ năm 1961 đến năm 1967. Đầu năm 1968 trở đi, Hải-Quân Công-Xưởng đã đóng xong các loại ghe Xi-măng, ghe YABUTA, tất cả trang-bị máy dầu cặn có công-xuất lớn để thay thế số ghe cũ. Mỗi Duyên-Đoàn được trang-bị theo cấp-số : 3 ghe chủ-lực, 20 ghe Yabutạ Quân-số mỗi đơn-vị khoảng 100, trong đó có 5 Sĩ-Quan, 20 Hạ-Sĩ-Quan.
Sơ Đồ Tổ Chức CTF-115 Về Hành Quân
Sơ Đồ Tổ Chức CTF-115 Thống Thuộc Hành Chánh
Khi chuyễn giao cho CTF 213 thì tổ chức cũng như vậy và
đổi thành:
IV -Chương-Trình ACTOV và ACTOVRAD ACTOV (Accelerated Turnover To The VietNamese) và ACTOVRAD cũng là nằm trong chương-trình ACTOV và chuyển-giao thêm vô-tuyến điện-tử như Radar của các đài kiểm-báo. Hệ-thống truyền-tin như viễn-ấn-tự hữu-tuyến, vô-tuyến và phương-tiện liên-lạc v.v Khi BTL/LLĐN 213 được hình thành tại CamRanh thì CTF 115 chuyển-giao công việc lần lượt lại cho HQVN đảm trách. Trong năm 1970 bắt đầu chuyển-giao các WPB, PCF, đặc-biệt có 4 chiếc PG tại CamRanh thì Hoa-Kỳ không giao. Các đài Kiểm-Báo, hệ-thống truyền-tin lần lượt được chuyển-giao. Ngay tại trung-tâm hành-quân CamRanh được trang-bị một hệ-thống liên-lạc Hotline, lúc bấy giờ xem như rất hữu-hiệu cho các cuộc liên-lạc nhanh chóng, Sĩ-Quan trực-phiên muốn gọi đến các Trung-Tâm Kiễm-Soát Duyên-Hải kể cả Phú-Quốc đều được đáp-ứng ngay tức-thờị Đặc-biệt có 1 điện-thoại loại tối-mật được đặt trong tủ với 2 lớp khoá mã số (dành riêng cho CTF 115 có thể liên-lạc thẳng Ngũ-Giác-Đài). Về không tuần thì Hoa-Kỳ vẫn còn tiếp-tục trợ-giúp phi-cơ P2V cho đến năm 1973 sau Hiệp-Định Paris. Nhìn chung LLĐN 213 dựa vào cơ-cấu của CTF 115 để lại, riêng các vùng viễn-duyên (outer barrier) thì các chiến-hạm của Hạm-Đội VN thay thế cho Đệ 7 Hạm-Độị Do đó Hải-Quân Hoa-Kỳ chuyển-giao cho HQVN nhiều chiến-hạm như sau: -Năm 1970 chuyển-giao : - HQ 13 (Hộ-Tống-Hạm Hà-Hồi). Vi Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Th/Tá Phạm-Thành (Khoá 13 SQHQ/NT). Vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975, trong khi tham dự yểm-trợ công-tác rút quân taị V1ZH, bất ngờ bị máy bay bắn lầm, gây thương-vong cho một số thủy-thủ-đoàn, chiến-hạm cũng bị hư hại, chiến-hạm được lệnh rời vùng hành-quân để trở Saigòn sửa chữa. Đêm 29.04.75 chiến-hạm vẩn còn bất-khiển-dụng nên bị bỏ lại, sau này VC tái sử dụng. - HQ 14 (Hộ-Tống-Hạm Vạn-Kiếp). Vào giữa tháng 3.75 chiến-hạm bị một quả Rocket do phi-cơ F5 bắn lầm, trong lúc công-tác tại V1ZH như HQ13, gây thương-vong cho một số thủy-thủ-đoàn. Tuy nhiên tình-trạng chiến-hạm không bị hư hại nặng. - HQ 472 và HQ 473 (Loại tầu chở dầu) . - HQ 504 (Dương-Vận-Hạm Qui-Nhơn). HQ 504 bị bỏ lại, VC huy-động thủy-thủ-đoàn tái sử-dụng ngay vào các công-tác chuyển-vận. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Nguyễn-Như-Phú (Khoá 13 SQHQ/ NT). — lại trình-diện đi tù và bị chuyển ra Bắc. - HQ 505 (Dương-Vận-Hạm Nhatrang). Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Nguyễn-Văn-Nhượng (Khoá 9 SQHQ/NT) . - HQ 800 (Cơ-Xưởng-Hạm Mỹ-Tho). Được chuyển-giao vào tháng 10. Vị Hạm-Trưởng sau cùng HQ Tr/Tá Dương-Hồng-Vỏ (Khoá 9 SQHQ/NT). -Năm 1971 : Chuyển-giao : HQ I (Khu-trục-Hạm Trần-Hưng-Đạo) Loại DER. Được chuyển-giao cho HQVN vào tháng 2. Tư-Lệnh HQ đặt chiến-hạm này vào vị-trí Soái-Hạm. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Nguyễn-Địch-Hùng (Khóa 3 Brest, trường Sĩ-Quan Hải-Quân bên Pháp), tương-đương khoá 6 SQHQ Nhatrang. Sau 30.04.75, vì bị trễ giờ khởi-hành, Tr/Tá Hùng bị ở lại và trình-diện đi tù. Trong thời-gian cùng ở tù tại trại tù Vĩnh-Phú Vĩnh-Quang B miền Bắc từ năm 1978 đến năm 1982 thì chuyển traị. Tôi có nhận xét về Tr/Tá Hùng như sau: Ông là một đàn anh mẫu-mực, trầm-lặng, rất đáng được kính-trọng. Khi trại biên-chế từng đội, mỗi đội 30 người, một nhà 2 đội nhốt chung là 60 ngườị Trại có 8 nhà như vậy có tổng cộng khoảng gần 500 tù chính-trị. Còn tù hình-sự cách 1 hàng rào kẽm gai có khoảng 200. Ông được xếp vào đội rau xanh. Sáng gánh phân ra, chiều gánh rau về (phân là loại phân tươi của tù thãi ra từ ngày hôm trước). Đội rau xanh, ngoại trừ đội-trưởng , còn lại ai cũng phải luân-phiên gánh phân ra khu canh-tác, phân phải ủ vài tuần lễ xong phải quậy nát và trộn với nước để tưới rau muống, rau Tiễu-Bạch-Khẩụ Rau Tiễu-Bạch-khẩu là 1 loại rau gốc từ Trung-Cộng, mùa đông chịu được khí lạnh, miền nam không thấy có loại rau nàỵ Nhìn thấy đội rau xanh sắp hàng quang gánh trên vai chuẩn bị ra cổng trại, mà trong hàng đó toàn là Thiếu-Tá, Trung-Tá, chức-vụ Tiểu-Đoàn-Trưởng, Trung-Đoàn-Trưởng, Chỉ-Huy-Trưởng, Hạm-Trưởng, Tham-Mưu-Trưởng, Trưởng-Phòng, Quận-Trưởng, v.v. Nhìn ông thầy mà thấy thương cho đàn anh. Mới ngày nào thầy là 1 Trung-Tá Hạm-Trưởng chỉ huy một Soái-Hạm của Lực-Lượng HQVNCH, cuộc đời thật khó nói giữa Thiên-Đường và Địa-Ngục chỉ cách nhau có một Window, như trở bàn taỵ Ông từng là giáo-sư của trường Sĩ-Quan Hải-Quân Nhatrang, ông đã dạy chúng tôi về môn Điện-Kỹ-Nghệ năm thứ 1 và môn Hàng-Hải Thiên-Văn năm thứ 2. Tôi thì cũng không khá gì hơn, được sắp xếp vào đội cưa xẻ gỗ suốt 6 năm (kể luôn 2 năm làm thợ xẻ tại núi rừng Yên-Bái Hoàng-Liên-Sơn), mà nguồn nhiên-liệu là Sắn tươi, Sắn khô, Bo Bo, lâu lâu mới có chén cơm ăn với muối hột. Đội tôi cũng 30 người, vừa cưa xẻ gỗ vừa đảm trách hàng tuần gánh gạo, muối cho nhà tù từ phân trại A về phân trại B. Hai trại cách nhau hơn 3 cây số, phải qua 2 con suối, cũng đảm trách các công việc khuân vác đột-xuất, vật-liệu linh tinh. Có lần chúng tôi gánh quà cho trại tù, đây là quà của thân nhân gia-đình từ trong nam gởi ra. Có đợt quà từ lúc gởi cho đến lúc nhận là 3 tháng, vì đường đi gián-đoạn do bão lụt. Khi đó chỉ có các món mặn như mắm ruốt, hay mực muối là không bị mốc xanh. Tuy nhiên tù vẫn ăn hết. Đợt này thầy Hùng có 1 gói 3 ký, tôi cũng có 1 gói. Trước khi được lãnh ai cũng phải qua 1 cuộc khám quà rất kỹ. Cai tù mở tung gói quà, rạch nát các gói bao bì đựng quà, xem có món nào cấm thì tịch-thu tại chỗ. Đến lượt thầy Hùng sau khi khám xong, thầy ngồi tại chỗ ăn liền một cục đường thẻ. Thật là tội nghiệp, vì từ lâu nay trong người quá thiếu chất ngọt mà phải lao-động nặng nhọc. Chất mặn thì có muối nhà bếp hằng ngàỵ Còn chất béo thì vài tuần lễ có chừng 2 kílô thịt mỡ bằm nhỏ bỏ vào chảo nước lớn nấu chia cho 500 người. Nói đến chất đạm thì lại càng khan hiếm, mỗi năm VC có 3 ngày lễ lớn đó là : ngày tết âm-lịch, ngày quốc-khánh VC mùng 2 tháng 9 và ngày thành-lập Quân-Đội nhân-dân VC là 22 tháng 12 dương lịch. Tù được bồi-dưững chất-đạm bằng 1 con trâu phế-canh cho toàn trại 500 người. Con trâu làm thịt cho tù ăn kể cả da trâu cũng hầm nhừ chia đều cho mỗi ngườị Ngoài những ngày đó ra, tù phải tự kiếm cào-cào, châu-chấu, rắn rết, cuốn chiếu, cóc, nhái, ểnh ương, mèo, chuột, con nào tới số gặp đám tù đói là coi như tuyệt-chủng. Cũng nhờ các thứ đó mà thời-gian lây-lất chờ cho đến ngày có tin quà đến trạị Còn thuốc men thì chẳng có gì, mọi thứ đều xin gia-đình gởi cho. Khi hay tin quà sẽ được chuyển về trại là coi như đêm đó có nhiều người mất ngủ, vì vừa mừng vưà lo không có tên. Lo lắng nhất là những anh bị vợ bỏ, niềm hy vọng rất mong manh vì trở thành kẻ mồ côi. Tuy nhiên có những anh nhiều vợ cũng lo không kém, thư từ nhắn gởi thì nhiều nhưng kết quả thì rất hạn hẹp. Đó là chưa kể xảy ra những tai-họa bất ngờ do các bà đến thăm nuôi tình cờ gặp nhau ngoài trại tù rồi đánh lộn nhau. Đương nhiên khi xảy ra như vậy thì cai tù không cho thăm mà phần thiệt về đương sự. Cũng có 2 trường hợp khi đám tù được chuyển trại về Nam năm 1982, thì có 2 người bỏ chồng theo tù về Nam. Người thứ nhất là nữ công-an coi trại tù Vĩnh-Phú Vĩnh-Quang A, cô ta có chồng là 1 công-an coi cùng trại tù. Còn người tù là 1 cấp tá, anh ta có nghề tay trái là 1 thợ may (tailor), anh ta thuộc trại B như chúng tôi nhưng được trại A xin qua làm việc cho gian hàng may cắt. Cai tù trông coi gian hàng này là 1 nữ cán-bộ như tôi đã đề-cập ở trên. Làm việc tại nhà may được 2 năm thì trại có lệnh di chuyển về Nam. Không biết anh ta may ngày, may đêm, may máy, may tay làm sao mà sau ngày chuyển trại cô ta cũng ly-dị chồng vào nam sống tại nhà người thân của anh ta. Người tù thứ 2 cũng là 1 cấp tá, anh ta được đẻ bọc điều, có vợ và con sau 30.04.75 di-tản định-cư bên Mỹ, thường xuyên gởỉ quà và tiền bạc về cho thân-nhân thăm nuôi dùm. Anh ta có điều-kiện lo-lót, nên cai tù phân trại A cho anh ta 1 "Job" chăn 1 đàn trâu của trại vừa lớn vừa bé khoảng chục con. Suốt ngày anh ta cứ tà tà khoẻ re, ngồi trên lưng trâu vuốt đuôi trâu, rờ sừng trâu, ngồi gốc cây này tới gốc cây khác. Khi no cơm ấm-cật thì tình-duyên lại đến với anh ta, chỗ mà anh ta thường ngồi là 1 lối đi, một cô giáo làng cũng đã có chồng thường hay qua lại khi tan trường về. Có 1 ngày anh ta thủ sẵn 1 chai dầu thơm "Made in USA" trao tặng cô giáo làm quà, dĩ nhiên ngày lại ngày còn có thứ khác nửạ. Khi chuyển trại thì cũng như trường hợp trên. Trong trại tù việc lao-động khổ-sai là thường tình là vinh-dự của mỗi chiến-sĩ phải trả nợ cho quê-hương Tổ-Quốc khi bị lọt vào tay địch. Đó chỉ nói sơ sơ về sự khổ-nhục và cái đói của các đồng-nghiệp lỡ sa chân vào tay chế-độ man-rợ. Tuy nhiên tinh-thần thầy Hùng vẫn bình-thản, trầm lặng, ít nghe ông nói gì, mà cũng chẳng hề than-vãn hoặc xin xỏ ai cái gì. Có lần đội xẻ gỗ của tôi đi ngang qua đội rau xanh của ông, thì thấy 1 đội tù hình-sự đi phía trước chúng tôi toàn là lớp trẻ, có lẽ trước đây chúng cũng là cháu ngoan của bác. Chúng thấy đám rau muống tươi tốt vừa được tưới phân, chúng tranh nhau hái các đọt non dọc theo đường đi, rảy rảy mấy cái rồi bỏ vào miệng ăn ngon lành. Chiều thì đội rau thu-hoạch đem về trại, cân tính tiền vào sổ chi phí nuôi tù, rồi giao cho nhà bếp. Anh nuôi nhà bếp xúm lại lặt xong rửa sơ sơ bỏ vào chảo luộc, luộc xong thì vớt rau ra để riêng, nước múc riêng, tất cả chia đều ra từng thau rồi gọi các Trực-Buồng đến lãnh cơm chiều chung cho độị Lãnh xong về Trực-Buồng chia cho từng cá nhân. Mỗi người cuối cùng được lưng chừng chén nước rau, một dúm rau luộc nhừ. Khi ăn thì trời cũng gần tối, thỉnh thoảng có người gắp ra mảnh vãi màu sẫm sẫm như raụ Gắp vải bỏ đi tiếp tục ăn và uống. Chuyện này xảy ra trong 1 trại tù cũng thường tình thôi, bởi vì khi đi đại-tiện tù không còn giấy thì xé quần aó cũ rách thay thế. Ăn uống thiếu vệ-sinh cho nên căn bệnh giết chết tù nhiều nhất là "kiết-lỵ". Lây lan rất nhanh do ruồị Khi tôi còn ở trại tù Yên-Bái, thời kỳ này mới được chuyển ra Bắc, chưa quen lối sống mớị Toàn trại có 300 tù, mà số bị bệnh kiết-lỵ trên 200, trong đó có 3 người chết vì thiếu thuốc men, sống trong rừng không có bệnh-viện chữa trị. Cán-Bộ chính-trị luôn ca ngợi chế-độ, Đảng là sáng-suốt. Lịch-sử loài người từ thời-kỳ sơ-khai, thời-kỳ đồ đá, đến thời-kỳ nông-nô, rồi thời-kỳ cơ-khí, qua đến tư-bản, giờ đây là chế-độ xã-hội chũ-nghiã, sau này tiến tới thế-giới "Đại-Đồng". Khi đó "làm theo năng-lực hưởng theo nhu-cầu". Đó là sự tiến-hoá tất-yếu của con người, là tiến-bộ là văn-minh. Mọi vật đều tiến-hoá như "hình xoắn trôn ốc đi lên". Đảng đã dạy rằng các nhà nghiên-cứu cho biết con người là do một loài Vượn biến-hoá thành, trong quá-trình phải mất trên mấy triệu năm mới có con người hoàn-chỉnh như ngày nay !!! Tuy nhiên ! nếu chúng ta lỡ sa chân vào chế độ Ưu-Việt này thì từ con người biến trở lại thành Vượn theo một tiến-trình quá nhanh, đó là con đường bao-tử xã-hội chủ-nghiã, không phải 3 năm mà là chừng 3 tháng. Có khi nhanh hơn nếu chịu khó chấp nhận mọi thử-thách để biến thành đất. Đã có không ít tù-nhân hồ-hởi phấn-khởi để chọn giải-pháp này rồi. Còn một người nữa cũng xứng đáng được vinh-danh là cựu HQ Tr/Tá Hà-Hiếu-Diệp (Khoá 10 SQHQ/NT). Anh Diệp nguyên là Chỉ-Huy Trưởng-Ty Quân-Cảng Saigòn. Ngày 30.04.75, anh đã từng giúp cho nhiều vị sử dụng tầu dòng của Ty Quân-Cảng ra tầu lớn để đị Anh cùng ở tù chung chỗ của chúng tôị Anh là một người chống cộng nổi-nét hơn tất cả. Từ việc làm cho đến lời nói. Anh bị bọn cai tù trù-dập, anh sẵn sàng chấp nhận mọi hậu-quả. Bọn cai tù biết thế nhưng chưa tìm được cơ-hội gì để nhốt anh. Có 1 ngày trong khi chúng tôi xẻ gỗ tại trại mộc Vĩnh-Phú Vĩnh-Quang B. Anh là 1 người của lò-rèn thuộc đội mộc. Sau giờ lao-động là 5 giờ chiều, anh lấy mấy miếng gỗ phế-thải bó lại thành 1 bó bằng bắp chân. Xong đút vào lỗ hàng rào của trại để sau khi ra suối tắm xong thì vào lấỵ Chỉ có vậy thôi, đối với người khác thì đâu có sao, nhưng đối với anh Diệp thì từ lâu nhất cử nhất động. Bọn cai tù để ý và làm to chuyện. Hắn báo-động làm rần lên, cho rằng anh Diệp phạm nội-quy trạị Đem anh Diệp nhốt vào phòng biệt-giam 1 tháng. Khi mãn hạn ra khỏi nhà đá nhìn thấy anh gầy nhom và xanh xao. Tuy nhiên tinh-thần anh vẫn không khuất-phục chế-độ. - HQ 4 (Khu-trục-Hạm Trần-Khánh-Dư) Loại DER. Được chuyển-giao vào tháng 9. Đây là chiến-hạm trực-tiếp tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa với Hải-Quân Trung-Cộng vào đầu năm 1974. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Vũ-Hữu-San (Khóa 11 SQHQ/NT). Ngày rút khỏi cảng Saigòn thì chiến-hạm còn đang sửa chữa và bất-khiển-dụng nên bị bỏ lạị Sau này VC cho tái sử dụng . - HQ 02 (Tuần-Dương-Hạm Trần-Quang-Khải) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 1. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Đinh-Mạnh-Hùng (Khoá 11 SQHQ /NT) . - HQ 03 (Tuần-Dương-Hạm Trần-NhậT-DuậT) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 1. Vị Hạm Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Nguyễn-Kim-Triệu (Khoá 7 SQHQ / NT) . - HQ 05 (Tuần-Dương-Hạm Trần-Bình-Trọng) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 12. HQ 05 cũng trực-tiếp tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa đầu năm 1974. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Phạm-Trọng-Quỳnh (Khoá 11 SQHQ/NT) . - HQ 06 (Tuần-Dương-Hạm Trần-Quốc-Toản ) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 12. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Nguyễn-Phước-Đức (Khoá 9 SQHQ/NT). - HQ 801 (Cơ-Xưởng-Hạm Cần-Thơ). Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Th/Tá Nguyễn-Phú-Bá (Khoá 11 SQHQ/NT). — lại đi tù cùng số-phận như chúng tôi . - HQ 802 (Cơ-Xưởng-Hạm Vĩnh-Long).Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Vũ-Quốc-Công (Khoá 10 SQHQ / NT) . -Năm 1972 chuyển-giao tiếp : - HQ 15 (Tuần-Dương-Hạm Phạm-Ngũ-Lão) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 7. Ngày rời bến, chiến-hạm vẫn còn bất-khiển-dụng nên bỏ lại, sau này VC cho sửa chữa và tái sử-dụng. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Lê-Văn-Qúy (Khoá 11 SQHQ/NT) . - HQ 16 (Tuần-Dương-Hạm Lý-Thường-Kiệt) Loại WHEC. Được chuyển-giao vào tháng 6. HQ 16 cũng trực-tiếp tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa đầu năm 1974, dưới sự chỉ-huy của vị Hạm-Trưởng lúc bấy giờ là HQ Tr/Tá Lê-Văn-Thự (khóa 10 SQHQ/NT). Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Trần-Trọng-Hải (khoá 11 SQHQ/NT) Sau 30.04.75 Tr/Tá Hải ở lại trình-diện đi tù và cũng bị chuyển ra Bắc. - HQ 17 (Tuần-Dương-Hạm Ngô-Quyền) Loại WHEC . Được chuyển-giao vào tháng 6. Vị Hạm-Trưởng sau cùng là HQ Tr/Tá Trương-Hữu-Quýnh ( khoá 11 SQHQ /NT) . - HQ 475 (Loại tầu chở dầu) . - HQ 490. Đây là loại chiến-hạm chuyển-vận tiếp-tế. Trên tàu có hầm lạnh rất lớn để lưu-giữ thực-phẩm. Khi Hoa-Kỳ chuyển-giao chiến-hạm này thì HQVN lúc đó dùng vào các công-tác chuyên chở, thường xuyên giao-dịch giữa Bộ-Tư-Lệnh Hạm-Đội, Vũng-Tàu, Đà-Nẵng, NhaTrang, Năm-Căn, Phú-Quốc. Vị Hạm-Trưởng đầu tiên là HQ Đ/Úy Trần-Văn-Thảo (khóa 15 SQHQ/NT) . Hiệp-định Paris được ký ngày 27.01.73. Cho nên Hải-Quân Hoa-Kỳ đã ráo riết chuyển-giao quân-dụng và chiến-cụ đến cuối năm 1972 là chấm dứt. Nói tóm lại, LLĐN 213 thay thế CTF 115 để tham-gia hành-quân Lưu-Động-Biển. Suốt chặn đường phục-vụ cho dân-tộc. Đó là bảo-vệ lãnh-hải VNCH. Sau ngày 30.04.75, một lực-lượng HQ hùng-mạnh như vậỵ Một tổ-chức tuần-phòng lãnh-hải chặt chẽ như vậỵ Địch quân không thể xâm-nhập bằng đường biển. Ngoại trừ cuộc chiến bảo-vệ Hoàng-Sa đầu năm 1974 với Hải-Quân Trung-Cộng, có sự tham-dự của HQ10 , HQ4 , HQ 5 , HQ 16. Dưới sự chỉ-huy của HQ Đ/Tá Hà-Văn-Ngạc. Phần này được trình bày chi tiết ở tài-liệu trận hải-chiến Hoàng-Sạ Cuối cùng để rồi toàn bộ Quân-Chủng bị bức-tử. Trong khi chúng ta còn có trong tay trên 80 chiến-hạm đủ loạị Trên bốn chục ngàn quân sĩ các cấp. Thế rồi ngày ra đi, đã để lại trên 50 % Sĩ-Quan mà đa số là cấp Uý, trên 70 % Hạ-Sĩ-Quan và Đoàn-Viên. Một thảm-cảnh quá đau thương cho đất nước đã có sẵn một chế-độ tự-do, dân-chủ và tôn-trọng nhân-quyền. Một đất nước phồn-vinh được sánh như hòn ngọc Viễn-Đông. Âu đó cũng là vận nước đã đến thời bế-mạc, mà ai trong chúng ta cũng phải ngậm-ngùi để rồi chấp nhận thế cờ của người thua cuộc. Nước VIệt-Nam Cộng-Hòa đã chết. Xin cám ơn Hồn-Thiêng Sông-Núi, xin cám ơn Thánh-Tổ Hải-Quân, cám ơn các bậc đàn anh đã đào-tạo tay nghề hải-nghiệp cho đàn em. Nhờ đó có kinh-nghiệm và điều-kiện trên bước đường vượt-biển tìm tự-do. Một quân chủng trẻ trung, có truyền-thống nền-nếp, nể trọng các bậc đàn anh, quí mến đàn em, rất tự-hào về lớp trẻ hăng-say và đạt nhiều thành-quả vẻ-vang làm rạng-danh cho dân-tộc khắp mọi nơi trên bước đường định-cư tị-nạn. Một cuộc di-cư vĩ-đại và gây nhiều tang-thương nhất trong lịch-sử Việt-Nam . * Vị Tư-Lệnh Hải-Quân cuối cùng là: Phó Đô-Đốc Chung-Tấn-Cang. Ngày 05.03.75 tôi được thuyên chuyển về BTL/HQ/P5 (Phòng Nghiên-Cứu) thay thế cho anh HQ Th/Tá Văn-Trung-Quân (khoá 12 SQHQ/NT) thì lúc đó Đề-Đốc Lâm-Ngươn-Tánh là Tư-Lệnh Hải-Quân. Ngày 12.03.75 HQ Tr/Tá Bùi-Đức-Trọng Trưởng Phòng 5 đi Caracas Venezuela để họp luật-biển kỳ 3, tôi được chỉ định xử-lý thường-vụ. Khoảng chừng 2 tuần lễ sau Phó Đô-Đốc Cang về thay Đề-Đốc Lâm-Ngươn-Tánh. Tôi còn nhớ trong phiên họp tham-mưu cuối cùng ngày 22.04.75. Phó Đô-Đốc Cang nói với các SQ có mặt trong buổi họp là : "cương-quyết bảo-vệ đất nước, không đi đâu cả, không ai chịu chứa-chấp mình". Khi đó tại BTL/HQ cũng đã có một vài vị trưởng phòng tự-động rời bỏ nhiệm-sở cả tháng nay rồi. * Vị Tư-Lệnh LLĐN/213 cuối cùng là : Phó Đề-Đốc Nguyễn-Hữu-Chí. * Vị Tư-Lệnh V1ZH kiêm LĐĐN 213.1 : Phó Đề-Đốc Hồ-Văn Kỳ-Thoại. * Vị Tư-Lệnh V2ZH kiêm LĐĐN 213.2 : Phó Đề-Đốc Hoàng-Cơ-Minh. * Vị Tư-Lệnh V3ZH kiêm LĐĐN 213.3 : Phó Đề-Đốc Vũ-Đình-Đào. * Vị Tư-Lệnh V4ZH kiêm LĐĐN 213.4 : HQ Đ/Tá Nguyễn-Văn-Thiện. * Vị Tư-Lệnh V5ZH kiêm LĐĐN 213.5 : HQ Đ/Tá Nguyễn-Văn-May .
V - Tiêu-Diệt Tầu Địch Xâm-Nhập . 1) Vụ Vũng-Rô. Từ đầu năm 1965 chúng ta nghe nói vụ Vũng-Rô, một tàu VC từ miền Bắc xâm-nhập vào Vũng-Rô để chuyển vũ khí cho mật-khụ Lúc đó tôi không có dịp hiểu sự thật ra sao. Sau này vào năm 1968 tôi có dịp tuần-tiễu tại vùng NhaTrang, ghé lại Vũng-Rô thì thấy xác tầu bể nát vẫn còn nằm tại bãị Thời-gian khi tàu địch xâm-nhập vào Vũng-Rô, lúc bấy giờ cuộc hành-quân Market time chưa tổ-chức đầy đủ. Chỉ có tầu của HQVN, vì tầu bè ít nên phải bao thêm vùng rộng lớn, do đó tàu địch len lỏi vào được Vũng-Rô mà không bị phát-hiện. Tình cờ có 1 phi cơ của KQ/VNCH bay ngang vùng Vũng-Rô với cao độ hơi thấp. Bọn VC bên dưới đang vận-chuyển vũ-khí, tưởng lầm rằng bị bại lộ mục-tiêu, nên lực-lượng phòng không của VC liền bắn theo phi cợ Cũng rất may là chúng phản-ứng chậm nên loạt đạn bắn lên không trúng phi cơ, khi đó đã vượt tầm. Nhờ vậy phi cơ liền cấp-báo cho các Trung-Tâm Hành-Quân. 2) Cuộc truy-diệt mục-tiêu SL3 : Vụ Hòn-HÈO Khi Trung-tâm Hành-Quân MARKET TIME hoạt-động. Một yếu-tố hữu-hiệu nhất giúp cho việc khám phá tàu VC xâm-nhập là phi cơ P2V. Phi cơ bay cách xa bờ vài trăm hải-lý, khi nhận thấy có chiếc tầu nào khả-nghi là lập tức báo-cáo về CTF 115. Thường thường tàu V C xâm-nhập được ngụy-trang là tàu đánh cá. Loại tàu này có chiều dài khoảng 25m, rộng 5m. Khi nhận được báo-cáo nào như vậy thì Trung-Tâm Hành-Quân Cam-Ranh đặt cho nó một tên để theo dõị Tên chung cho loại này là SL (Suspect Trawler). Các SL được đánh số từ 1 trở đi, số nào không thấy xuất-hiện thì coi như chiếc đó có theo-dõi nhưng không vào bờ. Đầu năm 1968, đó là dịp tết Mậu-Thân. Lúc này tôi đang phục-vụ tại V2ZH Phòng Nhân-Viên. Trung-Tâm Trưởng TTKS/DH/NT là HQ Đ/U Hồ-Đắc-Cung (Khóa 11 SQHQ/NT). Tuy tôi làm ngành Quản-Trị Nhân-Viên, nhưng tôi cũng có nhận trực phiên tại TTKS/DH/NT. Khi đó mục-tiêu SL3 được CTF115 thông-báo cho V2ZH theo dõi vì mấy ngày nay rất nghi ngờ. Sự thật thì mấy ngày nay phi cơ P2V đã phát-hiện từ lúc cách xa bờ 200 hải-lý. Khi SL3 vào cách bờ 50 hải-lý thì phi cơ bàn-giao cho Đài Kiểm-Báo Hòn-Tre theo dõị Khi trời bắt đầu tối thì SL3 trực-chỉ vào vịnh NhaTrang. Khi đó ngay tại biển NhaTrang đã có sẵn HQ 12 (Hạm-Trưởng lúc bấy giờ là HQ Th/Tá Dư-Trí-Hùng), đồng thời Duyên-Đoàn 25 cũng đã tăng-phái 1 ghe chủ-lực và 2 ghe YABUTA cho V2ZH. Ngoài ra CTF 115 cũng tăng-cường 2 PCF tuần-tiễu án-ngữ trong vịnh NhaTrang. Coi như HQ 12, 3 ghe, và 2PCF sẵn sàng tác-chiến bên trong vịnh NhaTrang. Đến quá nửa đêm SL3 bắt đầu vào cửa vịnh. Lợi-dụng đêm tối SL3 chạy sát vào gần núi, lúc này HQ12 chỉ có thể chạy bên ngoài vì còn phải tránh các vùng đá ngầm. Các ghe Duyên-Đoàn cũng không theo kịp, chỉ còn lại 2 PCF của Mỹ rượt theo SL3 và khai hoả. Nhờ vũ-khí lợi hại nhất của PCF đó là súng cối bắn thẳng vào tàu địch. Khiến tàu địch ủi thẳng vào bờ và tự-hủỵ Tàu địch bị nổ tung tại mũi Hòn-Hèo, phần mũi gác lên bờ đá, phần lái chìm dưới nước. Tư Lệnh V2ZH lúc đó là HQ TR/Tá Phạm-Mạnh-Khuê tổ-chức ngay cuộc hành-quân. Cuộc hành-quân do Duyên-Đoàn 25 chủ-lực, dưới sự chỉ-huy của HQ Tr/U Trương-Công-Hải (Khóa 14 SQHQ/NT) đã tịch-thu được rất nhiều vũ-khí, đạn dược, B40, B41, chất nổ, tài liệụTrên tầu địch tất cả thủy-thủ-đoàn bị tiêu-diệt, địch để lại 3 xác chết . 3) Cuộc chận bắt SL4 : Vụ BA-TRI Đây là 1 cuộc chận bắt tàu địch gây-cấn và hồi-hộp nhất trong thời-gian mà tôi phục-vụ tại TTHQ/CR/ CTF 213. Vào đầu tháng 7 năm 1970, theo báo-cáo của không-tuần P2V thì có 1 SL4 đang cách Côn-Sơn về phía đông nam 300 hải lý. Tàu này thuộc loại đánh cá như SL3 vừa nói ở phần trên. Đặc-biệt chiếc này không xuất-phát từ miền Bắc mà là từ phía đông của đảo Hải-Nam Trung-Cộng đi xuống phía nam. Suốt 1 tuần lễ trôi qua thì ngày nào không tuần P2V cũng báo-cáo, có khi cách 250 hải-lý và đang đi về hướng bắc, có khi cách 200 hải lý đang đi chậm về hướng đông, đang thả lướị Sự việc cứ như vậy chẳng có gì quan tâm, ngày nào trên bản đồ cũng gắn hình ảnh nó xê dịch gần đó. Ngày nào sáng vào làm việc "briefing" cũng thấy vậỵ Qua tuần lễ sau thì thấy nó nhích vào gần Côn-Sơn hơn, bây giờ còn cách 150 hải-lý. Lúc đó CTF 115 chỉ-thị cho không-tuần P2V tăng-cường theo-dõi và đồng-thời chỉ định cho 1 chiếc Đ 745 bám-sát, đó là USS BRUSH. Tuy nói theo-dõi bám-sát, nhưng phi-cơ và USS BRUSH cách tàu địch rất xa, chỉ giử khoảng cách bằng radar, địch không thấy ta mà ta vẫn thấy địch. Cứ thế SL4 mỗi ngày gần thêm một tí và vẫn tiếp-tục thả lưới, kéo lướị Khi đến gần Côn-Sơn dưới 100 hải-lý thì cả CTF 115 và CTF 213 bắt đầu chuẩn-bị đối phó. Đến chiều 15.07.70 thì đài kiểm-báo Côn-Sơn cho biết SL4 đang cách 40 hải-lý về phía bắc. Mục-tiêu đang đi về hướng tây tây bắc vận tốc là 10 gút. Tính ra nếu SL4 đi hướng như vậy, vận tốc như vậy thì sẽ vào vùng Ba-Tri hay Ba-Động khoảng 2 giờ khuya naỵ CTF 213 ra chỉ thị cho HĐ3ZP tăng-phái ngay lập tức cho CTG 213.3 Vũng-tàu 2 PCF đến ngay địa điểm để chặn đầụ Đồng thời CTF115 chỉ định cho 1 chiếc MSO đang có mặt tại Vũng-Tàu theo dõi mục-tiêụ Trong khi đó thì USS BRUSH vẫn bám theo. Lưu ý một điều là tất cả các chiến-hạm và chiến-đĩnh đều tắt tất cả đèn hải-hành, chỉ quan sát bằng mắt thường và bằng radar. Tại TTHQ/CR thì cả 2 vị Tư-Lệnh túc-trực tại chỗ, coi như chừng nào mà vụ SL4 này chưa ngã ngũ là phải thức. Đêm đó tôi vẫn làm việc bên cạnh Tư-Lệnh Chí. Trung-Tâm Kiểm-soát Duyên-Hải Vũng-Tàu lúc đó là HQ Đ/Uý Nguyễn-Hồng-Diệm (Khóa 13 SQHQ/NT) cũng túc-trực và báo-cáo về CamRanh mọi diễn-tiến liên-tục. Khi SL4 cách vùng Ba Tri chừng 20 hải-lý, vì vùng này bắt đầu hơi cạn nên USS BRUSH không dám vào thêm, nhường lại cho MSO tiếp-tục bám-sát. Tàu địch tăng vận-tốc để hướng vào Vùng Ba-Tri, khi TTKS/DH/VT xác nhận 2 chiếc PCF đã thấy và đang tiến gần đến mục-tiêu, thì Tư-Lệnh Chí ra lệnh bắn, tôi liền gọi điện thoại HotLine cho TTKSDH/ Vũng-Tàu ra lệnh bắn. Đồng thời lúc đó CTF 115 cũng ra lệnh cho các chiến-hạm Mỹ. Sau khoảng 15 phút chờ đợi hồi-hộp, lúc đó là 1 giờ khuya, Tư-Lệnh Chí nói hỏi xem Vũng-Tàu đã bắn chưa. Được Vũng-Tàu trả lời là chưa. Nửa giờ sau gọi trở lại lần nữa cũng trả lời là chưa bắn. Trong khi cả hai vị Tư-Lệnh đang lo âu , chỉ sợ rằng SL4 lợi dụng đêm tối để ủi bãi vào mật khu Ba-Trị Đang khi chờ đợi trong hồi-họp, thì 15 phút sau CTF 115 nhận được một công-điện hỏa-tốc chuyễn bằng Vô-Tuyến Viễn-„n từ USS BRUSH về thẳng cho CTF115. Được Đại-Tá QUANSTROM cho biết như sau: Khi MSO đến gần SL4, tối trời nên bị SL4 đụng xớt nhẹ vào phía sau hông tàu, liền khi đó MSO quay đầu lại dùng phòng không 20 ly bắn vào tàu địch. Tàu địch bị bắn bất ngờ, biết là bị bại-lộ nên tự hủy và chìm ngay ngoài khơi Ba-Tri, cũng cần nói rõ thêm là từ khi USS BRUSH được chỉ định đến CTG 115.3 để bám-sát SL4. Thì khi đó USS BRUSH mang danh xưng của CTE 115.3.1.1. Trách-nhiệm chỉ-huy chiến-thuật tại chổ (OTC : Officer Tactical Command) đối với các chiến-hạm được CTF 115 tăng-phái cho vụ SL4 nàỵ Trong khi đó thì 2 PCF của Hải-Đội 3 Duyên-Phòng tìm không thấy tàu địch nên không thể khai hỏa. Ngày hôm sau một cuộc hành-quân trục-vớt vũ-khí do V3ZH tổ chức-với sự tham dự của Biệt-Đội Người Nhái... Cảm-nghĩ người viết: Là 1 cựu quân-nhân của 1 chế-độ mà tôi đã từng phục vụ 14 năm. Tôi cũng là 1 cựu tù-nhân của 1 chế-độ đối-nghịch trong thời gian 8 năm. Trong phần ghi vào lịch-sử được nêu lên ở các đoạn trên không có dụng-ý tuyên-truyền mà ở thời-điểm này không còn thích-hợp nữạ Chỉ có những ai đồng chung cảnh-ngộ như chúng tôi thì có thể cảm-ứng dễ dàng. Mặc dù ở khác trại nhau cũng có những điểm giống nhau vì cùng dưới 1 chế-độ. Còn những ai không cùng hoàn-cảnh tù-tội thì hãy nhìn xem tại sao những người không dính-dáng gì đến chế-độ cũ, những thanh thiếu-niên ra đời sau 75 cũng liều chết bỏ nước ra đị Những cựu viên-chức cao cấp như Trung-Tướng Trần-Độ cũng phê phán chế độ. Các giới trí-thức, các nhà tu-hành, các tôn-giáo cũng bị trù dập bắt bớ. Nhà văn nữ Dương-Thu-Hương vào tiếp-thu miền nam đã bật khóc, khi thấy miền nam quá tự-do như về báo chí, có quá nhiều sách báo các chế độ được bày bán tự-do, tự-do nghe đủ mọi đài phát thanh trên thế-giới, tự-do phát-biểu tư-tưởng của mình; còn kẽ chiến-thắng là có bản-chất của 1 chế-độ man-rợ. Lịch-sử nhân loại trên thế-giới đã chứng-minh bao nhiêu triều-đại hung-bạo nhất rồi cũng có ngày tàn của nó mà vết-tích vẫn còn lưu lại trên thế-giớị Chỉ có đạo-đức và lẽ phải là trường-tồn. Từ đầu thế-kỷ 19 đến nay các nhà khảo cổ vẫn còn khai-quật các lăng-mộ và nghiên-cứu Kim Tự-Tháp. Một triều-đại văn-minh như vậy cách nay trên 6000 năm, ngày nay chưa ai hiểu tại sao sụp-đổ. Như trên tôi đã có nói đồng-chí chính-trị tiên đoán khi thế-giới Cộng-Sản tiến tới "Đại-Đồng" thì "làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu". Sau 25 năm câu nói đó đã có kết-quả nhãn tiền. Thế-giới đại-đồng thì năm 1989 khối Cộng-Sản tan rã. Bây giờ còn câu "làm theo năng lực" là : Đồng-chí nào có trình-độ thấp thì làm việc thấp, muốn làm việc cao thì đảng cho bằng cấp cao, nào là bằng cấp giả, bằng cấp có thi nhưng cho tiêu-chuẩn chấm đậụ Còn "hưởng theo nhu cầu" Đồng-chí nào tin tuyệt-đối vào sự lãnh-đạo của đảng, tin vào chánh-sách trước sau như một thì, nếu muốn tiền đảng tạo điều-kiện cho có tiền, muốn có vàng đảng sẽ cho vàng, muốn có nhà để ở thì đảng cho nhà, muốn có thêm nhà cao tầng thì đảng cũng tạo điều-kiện theo nhu-cầu, đồng chí nào có nhu-cầu gái thì thiếu gì quán bia-ôm do đảng ta làm chủ. Còn Xã-Hội Chủ-Nghiã tiến theo hình "xoắn trôn ốc đi lên" cũng đã xuất-hiện : Như đồng-chí Ngô-Xuân-Lộc Phó Thủ-Tướng tham-nhũng ở chổ này bị lộ, thì đảng ta xoáy trôn ốc lên chức-vụ khác. Cũng như một số quan-chức ở cấp tỉnh tham-nhũng bị dân khiếu-nại đảng ta cũng xoáy trôn ốc lên chức-vụ cao hơn dễ dàng có sao đâụ Nhưng các đồng-chí nên nhớ đừng dính vào bạch-phiến. Một đất nước có quá nhiều khổ-đau và đói rách thuộc vào hàng nghèo nhất trên thế-giới, lại bị thống-trị bởi một Đảng mà suốt chiều dài lịch-sử thống-nhất 2 miền đã trên 25 năm qua, có quá nhiều lần sai lầm về chính-sách kinh-tế. Ai trong chúng ta nếu trong người còn có dòng máu VN không khỏi không đau-khổ cho những người cùng một nòi-giống còn phải chịu dưới chế-độ man-rợ. Mới đây những Việt-Kiều từ Đông-Âu về thăm quê-hương cho biết lúc này tại VN đang nở rộ phong-trào : "hy-sinh đời Bố để củng-cố đời con". Cho nên đời cha tha hồ-tham-nhũng tích-lũy của cải để dồn cho đời con hưởng, một khi cha đi tù và chấp nhận hậu-quả. Đó cũng là một hiện-tượng xảy ra để mau đến ngày sụp-đổ của chế-độ hiện tại. Như trên tôi đã nói sau ngày 30.04.75, nước Việt-Nam Cộng-Hòa đã chết. Chế-độ CS muốn VNCH phải chết từ thể xác đến linh-hồn. Bọn chúng trù-dập nhân dân miền nam, phân-biệt đối xử theo lý-lịch cá nhân để vợ con chúng ta không thể nào cất đầu lên được. Đó là về phần thể xác, phần hồn của VNCH chúng mở chiến dịch toàn nước đốt sạch, phá sạch văn-hoá phẩm, nhạc miền nam mà họ gọi là nhạc vàng, bị kết tội nhạc đồi-trụy, tịch-thu và tiêu-hủy v.v. Tuy nhiên khi đi tù ra ngoài Bắc, có dịp tiếp xúc với đám binh-sĩ và đám công-an coi tù còn trẻ, thì họ lại thích nghe nhạc vàng của chúng ta, họ rất say-mê. Ban đêm vắng người, trong khi canh gác họ lân-la đến cửa sổ yêu-cầu chúng tôi hát cho họ nghe, kể cả lúc đang lao-động ngoài rừng cũng vậỵ Khi được ra tù năm 1983 trong thời-gian chờ đợi vượt-biên, tôi đi lang thang tại thành phố Saigòn thì thấy hầu hết các quán café đều mở nhạc vàng , tuy không dám công khaị Nhưng họ dám làm vì lòng người dân thích nghe, dân chúng chê nhạc VC, họ còn tranh nhau mở nhạc thật hay để câu khách. Còn những bản nhạc, hay bài ca mà chúng bảo chúng tôi ngày nào trong trại tù cũng ngồi vừa vỗ tay vừa hát to thì ngoài xã-hội ít nghe ai hát tớị Nếu có hát thì cũng hát theo cách khác: chẳng hạn như : "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại-thắng"...(dân lại hát: "như có Bác Hồ trong nhà thương Chợ-Quán". .). Hoặc là "Từ ngày giải-phóng vô đây ta ăn độn dài dài." v.v.Từ đó tôi có một suy nghĩ là linh-hồn của đất nước VNCH hãy còn sống vất-vưởng đâu đó. Từ năm 1988, chính-phủ Úc chính-thức cho Quân-Đội Úc công-nhận những cựu Quân-Nhân VNCH được xem là Quân-Đội Đồng-Minh được quyền hưởng hưu-bổng theo quy-chế cựu quân-nhân tức là nam thì 60 tuổi, còn nữ là 55 .Trong khi ngoài xã-hội thì 65 tuổi mới hưụ Một điều mà ở cuối thập-niên 70 hay đầu thập-niên 80 dù có muốn cũng không dám nghĩ tới, mặc dù hàng năm cũng có tham-gia diễn-hành ngày ANZAC DA- Rồi thì xây dựng đài tưởng-niệm Việt-Úc tại công-viên. Đồng thời vinh-danh các cựu chiến-binh Úc đã từng tham-chiến tại VN, điều mà trước đây sau khi Quân-Đội Úc rút khỏi VN cuối năm 1972 về trong âm-thầm và bị chỉ trích dữ-dộị Như vậy chính-nghiã của chúng ta đã bắt đầu nở hoạ Rồi đến Quân-Đội Tân-Tây-Lan cũng làm lễ vinh-danh các cựu chiến-binh tham-dự chiến-trường miền nam VN. Tại thành phố PERTH của tây Úc thì hội cựu quân-nhân cũng đang chuẩn-bị xây dựng tượng đài kỷ-niệm Úc-Việt. Rồi vừa mới đây Hội-Đồng thị-xã WESTMINSTER đã chấp thuận cho Cộng-Đồng Người-Việt tại Hoa-Kỳ xây dựng tượng đài : "Vinh-Danh Người Lính Đã Chết Vì Tự-Do". Một kết-quả của việc làm mà chúng ta không thể nào dám nghĩ tới sự thành-công vào thập-niên 80 hay 90. Chắc chắn Linh-Hồn Việt-Nam Cộng-Hoà bị bức-tử ngày nào vẫn còn lưu lại niềm thương tiếc, cảm mến của cả dân-tộc 2 miền đất nước và của thế-giới tự-do, sẽ tái-sinh trở lại trong luật nhân-quả :"— hiền gặp lành, ở phải gặp phải" để đưa đất nước tiến lên trong chế độ tự-do, dân-chủ. Các nơi thờ phượng bị trưng-dụng cũng lần lượt trả lạị Các tôn-giáo bị ngăn cấm hoạt-động như Phật-giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài, Tin-Lành, Phật-Giáo, Công-Giáo v.v cũng được nới tay đàn-áp. Cái gì bị chế-độ mới chôn sâu dưới lòng đất trước đây, cũng bị dân chúng moi lên. Niềm tin tôn-giáo ngày càng dâng cao. Trong khi các tôn-giáo Quốc-Doanh thì bị dân cho là công-cụ của CS. Còn những gì mà chế-độ mới muốn phơi bày cho thế-gới như lăng của Bác thì dân lại thờ ơ. Cho nên bọn cộng-sản khuyến-dụ bằng cách ai đi xem lăng Bác sẽ được cấp phát 1 ổ bánh mì 200 gram ngay tại cổng ra cuối cùng. Con cái của chúng ta hồi nào bị chúng trù-dập thì bây giờ chúng gọi là Việt-Kiều yêu nước để về tiếp-tay cho chúng thêm chất xám. Dĩ nhiên lớp thế-hệ trẻ dù không liên-hệ tới cuộc-chiến như cha ông, không thù hằn với chế-độ mới, nhưng chúng cũng sáng suốt và khôn-ngoan. Chỉ cần nhìn vào một chế-độ không có tự-do, không có dân-chủ là không thích-hợp với văn-minh và tiến-bộ của loài người. Chúng ta đang chờ để viết lịch-sử những kẽ đã gây khổ đau cho dân-tộc Việt-Nam. Sydney 04 . 09 . 2000. Nguyễn - Tấn - Đơn |